Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ mầm non - Năm học 2024-2025 - Ngô Thị Liên

pdf 29 trang duythuan 18/10/2026 40
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ mầm non - Năm học 2024-2025 - Ngô Thị Liên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_giai_phap_nang_cao_chat_luong_b.pdf

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ mầm non - Năm học 2024-2025 - Ngô Thị Liên

  1. ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ TRƯỜNG MẦM NON 1-6  SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỮA ĂN CHO TRẺ MẦM NON. Tên tác giả : Ngô Thị Liên Đơn vị công tác: Trường mầm non 1-6 Chức vụ: : Nhân viên nuôi dưỡng Năm học : 2024 - 2025
  2. CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng khoa học ngành giáo dục huyện Ba Vì Nơi công Trình độ Ngày tháng Chức Họ và tên tác chuyên Tên sáng kiến năm sinh danh môn Nhân Một số giải pháp Trường Ngô Thị viên Cao nâng cao chất lượng 12/12/1981 Mầm non Liên nuôi Đẳng bữa ăn cho trẻ trong 1-6 dưỡng trường mầm non - Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Lĩnh vực nuôi dưỡng. - Tên sáng kiến đề nghị công nhận: Một số giải pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non. - Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Ngày 10/9/2024 tại Trường mầm non 1-6. - Mô tả bản chất của sáng kiến: Để thực hiện hiệu quả: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non” tại trường mầm non 1-6 tôi đã áp dụng 1 số biện pháp sau: Giải pháp 1: Học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho bản thân. Giải pháp 2: Tham mưu với ban giám hiệu, kế toán xây dựng thực đơn, khẩu phần ăn hợp lý, đa dạng, giàu dinh dưỡng cho trẻ . Giải pháp 3: Vận dụng cách sơ chế, chế biến thực phẩm đảm bảo chất dinh dưỡng. Giải pháp 4: Thực hiện tốt các biện pháp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Giải pháp 5: Phối kết hợp với giáo viên trên lớp tuyên truyền với phụ huynh trong công tác nuôi dưỡng trẻ tại trường mầm non.
  3. - Các điều kiện cần để áp dụng sáng kiến: Về cơ sở vật chất, kinh phí, tài liệu, sự phối hợp thực hiện của giáo viên học sinh, sự ủng hộ của các bậc phụ huynh ở trường mầm non - Đánh giá lợi ích thu được: Sau một năm thực hiện “Một số giải pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non.” cho thấy qua áp dụng sáng kiến kinh nghiệm vào thực hiện trong lớp từ tháng 09/2024 đến tháng 3/2025 có kết quả đạt được như sau: + Số trẻ suy dinh dưỡng giảm đi đáng kể + Tổ cấp dưỡng đã làm việc hết mình với công việc chăm sóc nuôi dưỡng. + Trẻ ăn ngon miệng, ăn hết xuất giúp trẻ phát triển cân đối, hài hòa, hoạt bát, tích cực vào các hoạt động của lớp và các hoạt động hàng ngày Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Tây Đằng, ngày tháng năm 2025 Người nộp đơn Ngô Thị Liên
  4. UBND HUYỆN BA VÌ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG MẦM NON 1-6 Độc lập - Tự do - Hạnh phúc PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ - Tên sáng kiến: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non” - Tác giả sáng kiến: Ngô Thị Liên - Họ tên người đánh giá: Phạm Thị Thủy – Phó hiệu trưởng - Cơ quan công tác: Trường Mầm non 1-6. Nhận xét 1. Nội dung 1: Sáng kiến có tính mới, sáng tạo, tiên tiến: 45 điểm. 1.1. Sáng kiến có tính mới, phù hợp với thực tiễn của cơ quan, đơn vị và đối tượng nghiên cứu áp dụng: 20 điểm Sáng kiến phù hợp với thực tiễn nhà trường, đưa ra các biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ tại trường mầm non. Sáng kiến có tính mới, sáng tạo. Có ví dụ và minh chứng tường minh cho hiệu quả của các giải pháp mới giúp nhân viên nuôi dưỡng tự tin tích cực chủ động, giảm tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng thấp còi. Điểm đánh giá: 16 điểm. 1.2. Sáng kiến nêu rõ sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ: 5 điểm Sáng kiến đã chỉ ra sự khác biệt của giải pháp mới. Nhân viên đã tham mưu với ban giám hiệu, kế toán xây dựng thực đơn, khẩu phần ăn hợp lý, đa dạng, giàu dinh dưỡng cho trẻ. Sau khi áp dụng đội ngũ nhân viên tự tin, chủ động, sáng tạo, xây dựng thực đơn phù hợp với trẻ. Điểm đánh giá: 5 điểm. 1.3. Sáng kiến nêu rõ cách làm, giải pháp mới, phân tích thể hiện sự sáng tạo, hiệu quả: 20 điểm Các biện pháp được trình bày cụ thể, sáng tạo, bao gồm: Tham mưu với ban giám hiệu, kế toán xây dựng thực đơn, khẩu phần ăn hợp lý, đa dạng, giàu dinh dưỡng cho trẻ; Vận dụng cách sơ chế, chế biến thực phẩm đảm bảo chất dinh dưỡng. Nhân viên có kỹ năng xây dựng thực đơn, khẩu phần ăn hợp lý, đa dạng, giàu dinh dưỡng và phối hợp dây truyền tốt trong khâu chế biến món ăn cho trẻ. Điểm đánh giá: 15 điểm. 2. Nội dung 2: Sáng kiến có khả năng áp dụng: 30 điểm.
  5. 2.1. Sáng kiến có nêu nội dung so sánh số liệu, kết quả giữa trước và sau khi áp dụng thực hiện cách làm, giải pháp mới: 10 điểm. Sáng kiến có tính ứng dụng, đã được áp dụng hiệu quả ở tại trường Mầm non 1-6, dự báo có khả năng ứng dụng, phát triển rộng rãi tới các trường khác có cùng điều kiện trong toàn ngành. Sáng kiến đã có số liệu khảo sát cụ thể, bảng đối chiếu kết quả trước và sau khi áp dụng, thể hiện rõ hiệu quả trong việc phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ mầm non. Điểm đánh giá: 9 điểm. 2.2. Sáng kiến có nêu được nội dung khả năng áp dụng cho các đơn vị, cá nhân cùng lĩnh vực; có thể áp dụng rộng rãi ở nhiều đơn vị. 20 điểm. Sáng kiến có tính thực tiễn cao, có thể áp dụng rộng rãi trong các trường mầm non khác trong huyện. Các biện pháp linh hoạt, phù hợp với nhân viên nuôi dưỡng và học sinh, giúp nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho trẻ. Điểm đánh giá: 16 điểm. 3. Nội dung 3: Sáng kiến mang lại hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến: 20 điểm Sáng kiến đã được áp dụng tại Trường Mầm non 1-6 và mang lại kết quả tích cực. Sáng kiến phù hợp với thực tiễn nhà trường, đưa ra các biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non. Sáng kiến đã làm rõ được vai trò của chất lượng bữa ăn đối với học sinh ,phù hợp với thực tế của nhà trường. Đem lại kết quả cho giáo viên, học sinh, phụ huynh, có thể lan tỏa ra các trường bạn. Điểm đánh giá: 15 điểm 4. Nội dung 4. Về hình thức: 5 điểm. Sáng kiến được trình bày khoa học, logic, bố cục rõ ràng, dễ hiểu, đảm bảo đúng thể thức văn bản. Điểm đánh giá: 4 điểm Tổng số điểm sáng kiến: 80 điểm Kết quả đánh giá (SKKN đánh giá Đạt 80 điểm) - Đạt  - Không đạt □ NGƯỜI ĐÁNH GIÁ
  6. MỤC LỤC STT NỘI DUNG TRANG I ĐẶT VẤN ĐỀ 1 1 Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến 1 2 Mục tiêu của đề tài, sáng kiến 2 3 Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2 II NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 2 1 Hiện trạng vấn đề 2 2 Giải pháp thực hiện sáng kiến 4 2.1 Giải pháp 1: Học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên 4 môn nghiệp vụ cho bản thân. 2.2 Giải pháp 2: Tham mưu với ban giám hiệu, kế toán xây 6 dựng thực đơn, khẩu phần ăn hợp lý, đa dạng, giàu dinh dưỡng cho trẻ . . 2.3 Giải pháp 5: Vận dụng cách sơ chế, chế biến thực phẩm đảm 8 bảo chất dinh dưỡng 2.4 Giải pháp 4: Thực hiện tốt các biện pháp đảm bảo vệ 9 sinh an toàn thực phẩm.: 2.5 Giải pháp 5: Phối kết hợp với giáo viên trên lớp tuyên 12 truyền với phụ huynh trong công tác nuôi dưỡng trẻ. 3 Kết quả sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến tại đơn vị 13 4 Hiệu quả của sáng kiến 14 4.1 Hiệu quả về khoa học 14 4.2 Hiệu quả về kinh tế 14 4.3 Hiệu quả về xã hội 14 5 Tính khả thi 14 6 Thời gian thực hiện đề tài, sáng kiến 14 7 Kinh phí thực hiện đề tài, sáng kiến 14 III KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT 15
  7. A. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến. Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai. Muốn làm được những chủ nhân tương lai đất nước khoẻ mạnh, cần quan tâm đến việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ ngay từ khi các trẻ còn nhỏ tuổi, đặc biệt là các trẻ dưới 6 tuổi. Có thể nói rằng yếu tố giúp trẻ phát triển cân đối hài hoà hoàn toàn phụ thuộc vào chất lượng nuôi dưỡng nói chung đặc biệt là chất lượng bữa ăn hàng ngày. Trong điều kiện nền kinh tế phát triển như hiện nay ăn uống không chỉ để giải quyết cảm giác đói mà ăn uống là yếu tố quan trọng và quyết định sự phát triển toàn diện của trẻ vì : Trẻ lứa tuổi mầm non phát triển rất nhanh về thể lực và trí tuệ. Nếu được chăm sóc nuôi dưỡng đầy đủ trẻ sẽ phát triển tốt, trẻ sẽ dễ dàng lĩnh hội những kiến thức trong quá trình giáo dục đồng thời hạn chế được ốm đau bệnh tật. Lứa tuổi này nhu cầu năng lượng tính theo trọng lượng phát triển cơ thể cao hơn so với ở người lớn. Do sức ăn của trẻ có hạn, chức năng tiêu hoá của trẻ chưa hoàn chỉnh, khả năng miễn dịch của trẻ còn hạn chế vì thế bữa ăn của trẻ cần được chú ý và quan tâm về chất lượng. Lựa chọn thức ăn cho trẻ đảm bảo có giá trị dinh dưỡng cao, phù hợp, dễ tiêu hoá . Dinh dưỡng và sức khỏe trẻ em là vấn đề đang được toàn xã hội quan tâm. Chúng ta đều thấy rõ tầm quan trọng trong việc ăn uống hàng ngày của trẻ, đó là nhu cầu thiết yếu không thể thiếu được trong đời sống hàng ngày của con người và ăn uống là yếu tố quan trọng quyết định sự phát triển, hoạt động và học tập của trẻ. Vậy cần phải ăn uống như thế nào để đảm bảo dinh dưỡng cân đối hài hòa giữa chất và lượng. Giúp trẻ phát triển toàn diện, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em. Ngoài việc ăn uống đủ chất, đủ lượng còn phải chú ý đến vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm. Bởi việc vệ sinh an toàn thực phẩm cũng là vấn đề được hiều người quan tâm nhất là trong các trường mầm non. Vì trẻ còn nhỏ cơ thể trẻ còn yếu ớt nếu để xảy ra ngộ độc thức ăn không những ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn ảnh hưởng đến tinh thần và trí tuệ sau này của trẻ. Vì vậy mà việc vệ sinh an toàn thực phẩm luôn luôn được chú trọng trong các trường mầm non. Là nhân viên nuôi dưỡng tôi luôn ý thức, coi trọng việc chăm sóc nuôi dưỡng là việc quan trọng nhất. Thực hiện nhiệm vụ năm học 2024-2025 nâng cao chất lượng nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non nhà trường đã tổ chức cho trẻ 100% ăn bán trú tại trường. Bên cạnh giáo viên trực tiếp giáo dục, chăm sóc trẻ thì công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, nâng cao chất lượng bữa ăn và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ
  8. 2 rất cần được quan tâm và chú trọng. Chính vì vậy tôi lựa chọn đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ mầm non”. 2. Mục tiêu của đề tài, sáng kiến. Thông qua đề tài: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ mầm non.” nhằm mục đích tìm tòi, khám phá ra cách chế biến món ăn phong phú hơn, hấp dẫn hơn, mùi vị thơm ngon hơn và phối hợp nhiều loại thực phẩm có sẵn ở địa phương mình, đảm bảo dinh dưỡng hợp lý và vệ sinh an toàn thực phẩm và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ. Giúp trẻ ăn ngon miệng, hết xuất đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể. 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu. Thời gian nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu từ tháng 9 năm 2024 đến cuối tháng 3 năm 2025. Củng cố và thực hiện những năm tiếp theo. Đối tượng nghiên cứu - Đối tượng : Trẻ 24-72 tháng tuổi trong trường mầm non 1-6. Phạm vi nghiên cứu. - Địa điểm: Trường mầm non 1-6 Ba vì- Hà nội. II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 1. Hiện trạng vấn đề. 1.1.Thực trạng a. Thuận lợi * Đối với cơ sở vật chất: Nhà bếp được xây dựng kiên cố, độc lập với các khối, phòng chức năng khác; có diện tích 220m2; gồm có khu sơ chế, khu chế biến, khu nấu ăn, khu chia thức ăn; được thiết kế và tổ chức theo dây chuyền hoạt động một chiều. Nhà bếp có đầy đủ đồ dùng, dụng cụ phục vụ trẻ ăn bán trú tại trường, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Có tủ lạnh để lưu mẫu thực phẩm của trẻ ăn bán trú. Kho bếp: phân chia riêng biệt kho lương thực và kho thực phẩm; có lối nhập, xuất hàng thuận tiện, độc lập và phân chia khu vực cho từng loại thực phẩm; có thiết bị bảo quản thực phẩm. * Đối vơí con người: Tổng số CB, GV, NV: 50 đ/c
  9. 3 Trong đó: Ban giám hiệu 3 đồng chí Giáo viên 31 đồng chí Nhân viên khác 7 đồng chí Nhân viên nuôi dưỡng 9 đồng chí. Trình độ chuyên môn nhân viên nuôi dưỡng Cao đẳng: 9 đồng chí. Trung cấp: 0 đồng chí. Nhà trường đã duy trì được số trẻ ăn bán trú tại trường là 100%. Nhà trường có đội ngũ cán bộ, giáo viên nhiệt tình, yêu nghề mến trẻ, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc được phân công. Đội ngũ cô nuôi trẻ khỏe, tâm huyết với nghề. * Đối với bản thân: Có trình độ cao đẳng và đã có 15 năm công tác trong nghành giáo dục nên cũng tích lũy được số kinh nghiệm về chăm sóc nuôi dưỡng. Được sự quan tâm của Ban giám hiệu, hàng năm nhà trường đã bồi dưỡng chuyên môn, tổ chức hội thi: “Giáo viên - nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp trường’’ để chúng tôi học hỏi và nâng cao kiến thức về chăm sóc nuôi dưỡng và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ. Được sự quan tâm của các cấp, các nghành và sự ủng hộ của các bậc phụ huynh về việc nâng cao chất lượng bữa ăn và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ. b. Khó khăn * Đối với cơ sở vật chất: Một số đồ dùng đã cũ, hỏng cần được thay thế và bổ sung. * Đối với cơ sở con người: Do đó việc phối kết hợp thực hiện phân công dây chuyền còn nhiều lúng túng. * Đối với bản thân: Bản thân tôi còn nhiều lúng túng trong việc phối kết hợp với giáo viên tuyên truyền với phụ huynh học sinh về chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. Điều kiện để nâng cao chất lượng bữa ăn còn khó khăn do điều kiện kinh tế và nhận thức của các bậc phụ huynh còn chưa đồng đều.
  10. 4 1.2 Những cách làm cũ nhược điểm: + Trong những năm trước khi có sáng kiến, chúng tôi đã thực hiện: Tham mưu với ban giám hiệu, kế toán xây dựng thực đơn, khẩu phần ăn hợp lý, đa dạng, giàu dinh dưỡng cho trẻ; Thực hiện tốt các biện pháp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đạt được kết quả nhất định; tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế. + Nhược điểm: Chưa thường xuyên đổi mới xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho bản thân; Các nội dung bồi dưỡng chưa có trọng tâm, còn chồng chéo, chưa có kế hoạch và lựa chọn thực tế địa phương.; Kỹ năng đảm bảo vệ sinh ATTP chưa đầy đủ, chưa biết cách xây dựng thực đơn phù hợp. Hình thức tổ chức sinh hoạt chuyên môn chưa có sự sáng tạo. Không khí buổi sinh hoạt chuyên môn chưa sôi nổi. * Kết quả khảo sát đầu năm như sau: Để thực hiện đề tài này tôi tiến hành khảo sát đánh giá 9 nhân viên và 385 trẻ đầu năm. (Phụ lục 1) Với cách làm trước khi có sáng kiến và qua khảo sát đầu năm cho thấy các nội dung đánh giá ở mức độ trung bình và yếu chiếm tỷ lệ cao, ở mức độ Tốt, khá còn ít thêm một lần nữa khẳng định việc tìm các biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ trong trường mầm non là rất quan trọng và cần thiết đối với mỗi cán bộ giáo viên nhân viên mỗi năm học. 2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề. 2.1. Giải pháp 1: Học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho bản thân. Tự học tập bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cấp dưỡng, phải có kỹ năng chế biến các món ăn cho trẻ mầm non thì khi chế biến các món ăn cho trẻ, cô nuôi mới thực hiện nghiêm túc thực đơn đã đề ra. Đảm bảo cho trẻ thường xuyên được thay đổi món ăn giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết xuất. Phòng giáo dục đã tổ chức các đợt tập huấn về công tác nuôi dưỡng tại các trường điểm tạo điều kiện cho các trường giao lưu, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. Nhà trường đã tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn bồi dưỡng về kiến thức và kỹ năng sơ chế, chế biến cho các cô nuôi ngay từ đầu năm học.
  11. 5 Qua các buổi sinh hoạt chuyên môn ở tổ cùng nhau trao đổi, thảo luận về cách chọn mua thực phẩm sạch, đảm bảo vệ sinh môi trường nơi chế biến thực phẩm, rau củ, quả, kỹ thuật chế biến thực phẩm, cách bảo quản thực phẩm . Từ đầu năm học bản thân tôi đã được Ban giám hiệu nhà trường cử đi học lớp tập huấn chuyên đề về nuôi dưỡng do phòng giáo dục tổ chức, về trường tôi tìm hiểu thêm tài liệu nghiên cứu trên ti vi, sách nấu ăn Nhân viên nuôi dưỡng biết tính khẩu phần ăn cho trẻ để biết được lượng Kcal cung cấp cho trẻ tại trường đạt bao nhiêu (%) so với nhu cầu cần đạt. + Trẻ nhà trẻ 24-36 tháng : Đạt 600-651% Kcal / ngày/ trẻ. + Trẻ mẫu giáo : Đạt 615-726% Kcal / ngày/ trẻ. Kcal do các chất P, L, G cung cấp có được cân đối, hợp lý hay không? Vì khẩu phần ăn của trẻ cân đối, hợp lý sẽ giúp cho quá trình tiêu hóa, vận chuyển, trao đổi các chất được tốt hơn. Tỷ lệ các chất cung cấp năng lượng theo P:L:G + Trẻ nhà trẻ 24-36 tháng : P : 13-20% năng lượng khẩu phần. L : 30-40% năng lượng khẩu phần (L động vật = 70% và L thực vật = 30% ) G : 47-50% năng lượng khẩu phần + Trẻ mẫu giáo : P : 13-20% năng lượng khẩu phần. L : 25-35% năng lượng khẩu phần G : 52-60% năng lượng khẩu phần Đảm bảo khoảng cách giữa các bữa ăn của trẻ trong ngày sao cho 2 bữa ăn của trẻ không quá gần nhau, kịp thời bổ sung năng lượng cho cơ thể trẻ. - Thời điểm tổ chức ăn cho trẻ trong ngày: + Chính sáng NT: 10h00 – 11h00 + Chính sáng MG: 10h20 – 11h40 + Phụ chiều NT + Chính chiều NT: 14h00 – 15h30 + Phụ chiều MG : 14h00 – 14h 40 Đảm bảo tốt chế độ vệ sinh an toàn thực phẩm, biết cách lựa chọn thực phẩm tươi ngon, không bị dập nát ôi thiu, kém chất lượng. Biết cách thay thế thực phẩm theo đúng nhóm, đúng định lượng, phù hợp với thực phẩm sẵn có của địa phương. Chế biến món ăn đúng quy trình, đúng nguyên tắc bếp một chiều, hợp lý, vệ sinh. Thực hiện nghiêm túc việc lưu mẫu thức ăn hàng ngày.
  12. 6 Thông qua các đợt phòng giáo dục tổ chức kiến tập về nuôi dưỡng và các buổi họp chuyên môn của trường giúp đội ngũ nhân viên củng cố hơn về chuyên môn, nâng cao năng lực chuyên môn, sáng tạo hơn trong chế biến món ăn.Tôi đã được trực tiếp nghe nhiều ý kiến đóng góp của các cấp lãnh đạo, các bạn bè đồng nghiệp nên bản thân càng thêm vững vàng hơn trong chuyên môn. (Ảnh 01) Từ kinh nghiệm đã học với thực tế việc làm hàng ngày, tôi đã tham gia các đợt thi đua của trường như: “Hội thi giáo viên - nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp trường; cấp Huyện” năm học 2024 – 2025 và đã nấu một số món ăn đúng theo quy trình và đảm bảo các chất dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ. (Ảnh 02) Bằng các hình thức tự học tập rèn luyện trên, tôi đã tự tin hơn khi thực hiện nhiệm vụ của mình. 2.2. Giải pháp 2: Tham mưu với ban giám hiệu, kế toán xây dựng thực đơn, khẩu phần ăn hợp lý, đa dạng, giàu dinh dưỡng cho trẻ . Nói về tầm quan trọng của việc xây dựng thực đơn. Bé dưới 5 tuổi có nhu cầu dinh dưỡng cao tuy nhiên lại không thể ăn một lượng thức ăn lớn trong một lúc. Vì vậy cần phải xây dựng thực đơn cho trẻ mầm non khoa học, hợp lý để đảm bảo đầy đủ chất dinh dưỡng trong ngày. Khi xây dựng khẩu phần ăn cho trẻ tại trường mầm non, ta phải cân đối số tiền của bố mẹ các cháu đóng góp. Tính toán định mức cho khẩu phần ta có thể dựa vào các bước sau: + Bước 1: Tính tổng số năng lượng, lượng protêin và các chất dinh dưỡng khác của khẩu phần qui ra số bữa chính của trẻ, từ đó quy ra lượng yêu cầu một bữa cho tổng số trẻ cùng ăn một khẩu phần giống nhau. + Bước 2: Chọn lương thực chính của trường là gạo. + Bước 3: Chọn một số thức ăn giàu protein từ nguồn thực vật sẵn có và rẻ tiền ở địa phương. Ví dụ: Đậu phụ, đậu xanh, đậu tương, lạc, vừng thêm một vài protêin động vật để cân đối khẩu phần như thịt, cá, tôm, cua + Bước 4: Tính lượng thịt và gạo hoặc lượng thức ăn khác nhau để nấu + Bước 5: Bổ xung năng lượng bằng một số loại chất béo, tốt nhất là dưới dạng dầu thực vật. + Bước 7: Tính khối lượng nước để nấu
  13. 7 + Bước 8: Thêm gia vị Căn cứ vào thực tế bữa ăn của trẻ với mức đóng góp của phụ huynh là 20.000đ/trẻ/ngày kể cả chất đốt. Trẻ ăn tại trường 1 ngày: +Đối với trẻ mẫu giáo: 1 bữa chính sáng, 1 bữa phụ chiều Đảm bảo kcal đạt: Sáng 60- 65% Chiều 30- 35% +Đối với trẻ nhà trẻ: 1 bữa chính sánh, 1 bữa phụ chiều, 1 bữa chính chiều. Đảm bảo kcal đạt: Sáng 47- 53% Phụ 8- 15% Chiều 39- 43% (Ảnh 03) Ở lứa tuổi mầm non, mọi chất dinh dưỡng đều hết sức cần thiết cho cơ thể trẻ. Mỗi loại thực phẩm lại cung cấp một số chất nhất định. Vì thế trong mỗi bữa ăn hàng ngày của trẻ phải kết hợp nhiều loại thực phẩm để thực đơn phong phú, đa dạng và không bỏ sót nguồn chất nào đối với cơ thể. Bữa chính đạt tối thiểu từ 5-7 loại thực phẩm và bao gồm các món : Cơm, món mặn, món canh. Có thể thay đổi nhiều cách chế biến như chiên, xào, luộc, nấu canh, nghiền để tăng thêm phần hấp dẫn của món ăn trên cùng một loại thực phẩm có thể kết hợp với một số loại gia vị khác tạo ra nhiều món ăn khác nhau. Khi xây dựng thực đơn cho trẻ mầm non, nên chú ý xây dựng thực đơn phụ thuộc vào điều kiện khí hậu của từng mùa và đặc biệt quan tâm về khẩu vị và trạng thái của thức ăn. Mùa hè hay những ngày oi ả, nóng nực nhu cầu về các món có nhều nước tăng lên, nên tăng cường món canh hay các loại nước ép, hoa quả, chè vào thực đơn cho bé. Mùa đông hay những ngày thời tiết se lạnh có thể bổ sung thêm các món xào, rán hay các món hầm nhừ để trẻ dễ ăn. Để nâng cao được chất lượng bữa ăn, trước hết cần phải tham khảo món ăn, kết hợp cùng kế toán xây dựng thực đơn sao cho đảm bảo đủ 4 nhóm thực phẩm đảm bảo về lượng và chất. Bên cạnh đó, cần phải biết kết hợp nhiều loại thực phẩm đa dạng phong phú tạo sự hấp dẫn. Ngay từ đầu năm học trường Mầm non 1-6 đã xây dựng kế hoạch chăm sóc nuôi dưỡng phù hợp với đặc điểm thực tế. Lên thực đơn ăn uống theo khẩu phần, hàng ngày, hàng tuần, theo mùa, hợp lý, cân đối dinh dưỡng và triển khai tới các
  14. 8 bộ phận đoàn thể của nhà trường và triển khai sâu rộng trong toàn thể cha mẹ học sinh như: thông qua cuộc họp cha mẹ học sinh, tranh ảnh Nhận thức được tầm quan trọng chăm sóc dinh dưỡng của trẻ, cùng với lòng yêu nghề, tinh thần trách nhiệm cao ngay từ đầu năm học tôi đã nghiên cứu thực đơn của nhà trường. Bên cạnh đó, tôi cũng tham mưu phối hợp cùng với hiệu phó nuôi, kế toán nhà trường xây dựng thực đơn của trẻ hợp lý, thay đổi theo ngày, tuần, phù hợp theo mùa, cần đối về dinh dưỡng . Dựa vào thực đơn của năm học 2023- 2024 trường tôi đã tìm ra một số món mới và xây dựng thành thực đơn của năm học 2024-2025 cho trẻ. (Ảnh 04) 2.3 Giải pháp 3: Vận dụng cách sơ chế, chế biến thực phẩm đảm bảo chất dinh dưỡng. Như chúng ta cũng đã thấy quá trình phát triển của trẻ được phân chia ra thành nhiều thời kỳ và giai đoạn khác nhau. Nên mỗi thực phẩm sẽ có cách chế biến riêng để vừa giữ được dinh dưỡng của món ăn, vừa giúp món ăn chín đều và đảm bảo tốt nhất vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm. Việc chế biến các món ăn cho trẻ cũng phải tuân thủ theo quy trình chế biến từ nhập và kiểm tra chất lượng phực phẩm > sơ chế nguyên liệu > chế biến món ăn > chia ăn. Với trách nhiệm là tổ phó tôi phối hợp bếp trưởng phân công các chị em trong tổ phối hợp làm tốt theo lịch phân công dây chuyền, luôn phải coi trọng công tác chế biến món năn cho trẻ sao cho phù hợp với trẻ. Để có bữa ăn đạt chất lượng cao giàu chất dinh dưỡng ngoài kết hợp các loại thực phẩm giàu chất dinh dưỡng thì yếu tố đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cũng rất quan trọng. Việc lựa chọn thực phẩm tươi ngon đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm là rất quan trọng trong việc đảm bảo sức khỏe cho trẻ trong trường. Thực phẩm khi được tiếp nhận phải tươi ngon, không bị héo úa, thịt cá còn tươi không có mùi hôi. Thực phẩm giao cho nhà trường đủ số lượng, hóa đơn giao hàng và có giấy kiểm dịch thực phẩm an toàn của nhà cung cấp. (Ảnh 05) Sau khi tiếp nhận thực phẩm từ khâu tiếp phẩm, chia thịt cá, rau củ, trái cây để riêng thành từng loại. Thực phẩm nào nấu trước thì sơ chế trước. Rau lá, rau củ thì loại bỏ phần gốc rễ, lá già, gọt vỏ, bỏ hạt sau khi sơ chế xong các thực phẩm được chuyển sang rửa sạch. Thực phẩm được chuyển từ khâu sơ chế sang thì chia ra từng bồn để rửa: Bồn rửa thịt cá, bồn rửa rau củ, bồn rửa trái cây. Rửa trái cây trước, đến rau củ,
  15. 9 thịt cá rửa sau cùng.Tất cả thực phẩm phải được rửa sạch 2-3 lần dưới vòi nước chảy. Sau khi rửa xong thực phẩm được đưa qua xắt thái. Tùy theo từng lứa tuổi, món ăn mà ta có thể xắt thái thực phẩm theo từng kích cỡ khác nhau. các thực phẩm như rau, củ, quả chúng tôi phải thái nhỏ hoặc thái hạt lựu. Thịt, tôm thì xay nhỏ rồi ướp gia vị. Sau khi xắt thái xong cho thực phẩm vào nồi đậy nắp lại rồi chuyển sang khâu chế biến. Khi chế biến chúng ta phải chú ý thực phẩm gần chín thì chúng ta mới được cho gia vị nếu cho sớm thì mất tác dụng của muối iốt, nếu thực phẩm mà đã chín quá cũng không tốt sẽ mất hết các Vitamin chứa trong rau, củ, quả, thức ăn chín quá cũng dễ có mùi lồng làm cho trẻ khó ăn dẫn đến trẻ ăn không ngon miệng và hết suất. Các thực phẩm rau, củ, quả, trước khi nấu chúng ta nên xào sẽ làm cho rau, củ, quả mềm ra giúp trẻ dễ ăn hơn. Với thực phẩm là thịt nhưng các cô nuôi chúng tôi có thể chế biến ra nhiều món ăn khác nhau như: thịt sào ngũ sắc, thịt rang, thịt kho trứng Qua quá trình nghiên cứu đã cho tôi thấy rằng để chế biến được một món ăn thì chúng ta phải trải qua biết bao nhiêu công đoạn và theo tôi chúng ta nên chế biến theo quy trình bếp một chiều từ thực phẩm sống > làm sạch > rửa > thái nhỏ > nấu chín > chia ăn Đây là một qua trình rất phù hợp cho công tác chế biến nó giúp chúng ta rút ngắn được thời gian và công sức. Bên cạnh đó còn đảm bảo an toàn vệ sinh. Khi chế biến các thực phẩm xong chúng ta nên đậy vung lại để đảm bảo không cho các vi khuẩn xâm nhập vào thức ăn. Làm thế nào để trẻ thích thú với giờ ăn, ăn ngon miệng, hết xuất, thì các cô nuôi phải thường xuyên thay đổi cách chế biến món ăn sao cho phù hợp với trẻ tạo cho trẻ cảm giác ngon miệng khi ăn. (Ảnh 06) Tổ nuôi đã tạo ra những món ăn ngon, hấp dẫn, đủ chất dinh dưỡng mà lại tạo được cảm giác thèm ăn của trẻ. Các bữa ăn chế biến cho trẻ, trẻ đều ăn ngon miệng và hết xuất, không có trường hợp nào ngộ độc bị xảy ra. 2.4 Giải pháp 4: Thực hiện tốt các biện pháp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Trường mầm non là nơi tập trung đông trẻ, bản thân trẻ còn non nớt, chưa chủ động, có ý thức được đầy đủ về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm; nếu để xảy ra ngộ độc thực phẩm trong cơ sở giáo dục mầm non thì hậu quả khôn lường. Vì vậy việc lựa chọn sử dụng thực phẩm sạch an toàn đề phòng ngộ độc thức ăn là vấn đề có ý nghĩa thực tế vô cùng quan trọng.
  16. 10 Để làm tốt công tác vệ sinh an toàn thực phẩm nâng cao chất lượng bữa ăn vào đầu năm học nhà trường tổ chức họp ban giám hiệu nhà trường và các đoàn thể thống nhất lựa chọn những cơ sở tin cậy trên địa bàn để tiến hành kí kết hợp đồng mua thực phẩm và các cơ sở hợp đồng này phải đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu đảm bảo vệ sinh: Cần kiểm tra giấy đăng ký kinh doanh đúng tên đơn vị; Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm; Xác nhận công bố hợp quy định an toàn thực phẩm; Những thực phẩm có đóng gói phải có công bố chất lượng sản phẩm; Bao bì, nhãn mác đầy đủ thông tin và hạn sử dụng Để phòng nhiễm bẩn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm nhân viên nhà bếp phải được học và bồi dưỡng kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm, nắm vững trách nhiệm của mình trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. Cần phải thực hiện tốt khâu vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân, vệ sinh khu vực bếp, đồ dùng, dụng cụ nhà bếp trong quá trình chế biến thức ăn cho trẻ. * Vệ sinh đối với cô nuôi : Ngay từ đầu năm học, nhân viên nhà bếp chúng tôi được học và bồi dưỡng những kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm, nắm vững trách nhiệm của mình trong công tác nuôi dưỡng và an toàn cho trẻ. Cô nuôi là người trực tiếp nấu ăn cho trẻ phải rèn luyện cho mình ý thức giữ vệ sinh bằng cách thực hiện tốt khâu vệ sinh cá nhân trong quá trình chế biến ăn cho trẻ như: Cô nuôi phải mặc quần áo công tác, đầu tóc phải gọn gàng, móng tay phải được cát ngắn và sạch sẽ không được đeo trang sức ở tay khi đang chế biến thức ăn cho trẻ. + Rửa tay bằng xà phòng trước và sau khi chế biến thức ăn, khi tay bẩn, sau khi đi vệ sinh, sau mỗi công đoạn chế biến phải có khăn tay lau riêng. + Khi chế biến cô nuôi phải tuân thủ quy định chế biến một chiều, không được ho, khạc nhổ khi chế biến thức ăn cho trẻ. + Khi chia thức ăn cho trẻ cô nuôi phải đeo tập dề, đeo khẩu trang, đi găng tay không được dùng tay để bốc thức ăn để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. + Cô nuôi phải được khám sức khỏe định kỳ 6 tháng một lần nếu đủ sức khỏe mới được tham gia chế biến thức ăn cho trẻ. * Vệ sinh Bếp : Khu vực bếp phải luôn được vệ sinh sạch sẽ, sắp xếp vị trí khu vực sao cho thuận tiện, gọn gàng, nơi tiếp phẩm, nơi sơ chế, khu chế biến, khu chia ăn thường xuyên giữ vệ sinh sạch sẽ. Bếp ăn thực hiện quy trình một chiều để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
  17. 11 Ngoài ra trong nhà bếp có bảng tuyên truyền 10 nguyên tắc vàng về vệ sinh an toàn thực phẩm, bếp ăn 5 tốt, bảng thực đơn, bảng chia ăn và một số biểu bảng khác, cô nuôi phải vệ sinh lau chùi sạch sẽ hàng ngày để đảm bảo tốt công tác vệ sinh an toàn thực phẩm. Thực hiện tốt công tác khử khuẩn: Lau sàn nhà và các đồ dùng bằng nước sát khuẩn bằng cloramin b. (Ảnh 07) * Vệ sinh đồ dùng ,dụng cụ nhà bếp : Thiết bị, dụng cụ dùng để chế biến thực phẩm phải có đầy đủ và phù hợp, được chế tạo bằng vật liệu không độc, ít bị bào mòn, không bị han gỉ, không thôi các chất độc hại vào thực phẩm, không gây mùi lạ hay làm biến đổi thực phẩm, Dụng cụ sử dụng ít khe kẽ lõm, dễ làm vệ sinh. Dụng cụ sử dụng cho trẻ ăn uống phải sạch sẽ rửa sạch, sấy khô thường xuyên vào các buổi sáng chúng tôi đến sớm để vệ sinh tủ sấy và cho bát, thìa, nồi, xoong vào sấy khô, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Bát, thìa và xoong nồi phải sạch sẽ và được úp khô ráo để trong tủ kín. (Ảnh 08) Nhà trường đã được trang thiết bị tương đối đầy đủ các trang thiết bị hiện đại như tủ hấp cơm, tủ sấy bát, tủ lạnh .Điều đó đã giúp tổ nuôi dưỡng chúng tôi thực hiện tốt công tác vệ sinh an toàn thực phẩm. * Vệ sinh môi trường xung quanh. + Nguồn nước: Nước là một loại nguyên liệu không thể thiếu được và nó được sử dụng nhiều công đoạn để chế biến thực phẩm và vệ sinh trong sinh hoạt hàng ngày đối với trẻ. Nước nhiễm bẩn sẽ taọ nguy cơ không tốt đến sức khoẻ của trẻ. Nếu dùng nước an toàn trong chế biến thực phẩm phải là nước phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng nước ăn uống số 01: 2009/BYT và nước cũng phải được kiểm định chất lượng ,vệ sinh ít nhất 6 tháng/lần theo quy định. Nhà trường đã sử dụng nguồn nước sạch và luôn được sát trùng, nếu có biểu hiện khác thường thì nhân viên nhà bếp báo ngay cho ban giám hiệu và nhà trường báo ngay với cơ quan y tế để điều tra và xử lý kịp thời nếu nước nhiễm bẩn sẽ gây ra ngộ độc thức ăn trong ăn uống, và các chứng bệnh ngoài da của trẻ. + Xử lý chất thải:
  18. 12 Phải có đủ dụng cụ thu gom chất thải, rác thải, có nắp đậy để tránh ô nhiễm, hệ thống xử lý chất thải phải đạt theo tiêu chuẩn theo quy định về bảo vệ môi trường. Đối với trường bán trú có rất nhiều loại chất thải khác nhau như: Nước thải, khí thải, rác thải Nước thải từ nhà bếp, khu vệ sinh tự hoại, rác thải từ rau củ, rác từ thiên nhiên lá cây, các loại nilông, giấy lộn, đồ sinh hoạt thừa, vỏ hộp sữa Nếu không có biện pháp xử lý tốt sẽ làm ô nhiễm môi trường. Các loại rác thải là nơi tập trung và phát triển của các loại côn trùng và chúng bay đến đậu nơi thức ăn cũng sẽ gây nên các mầm bệnh, ngộ độc thức ăn ở trường. Các chất thải ra phải cho vào thùng rác và có nắp đậy. Rác thải đã được nhà trường ký kết hợp đồng với phòng vệ sinh môi trường thu gom và xử lý hàng ngày, có cống thoát nước ngầm vì vậy khuôn viên trường lớp không có rác thải tồn đọng và mùi hôi thối. Việc thực hiện tốt công tác vệ sinh môi trường, vệ sinh khu vực bếp, vệ sinh cá nhân của cô nuôi và vệ sinh sạch sẽ đồ dùng dụng cụ chế biến món ăn cho trẻ của trường tôi đã góp phần rất lớn và vô cùng quan trọng trong công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ. Chính vì vậy hàng năm trường tôi đã không xảy ra một vụ ngộ độc thức ăn nào. 2.5 Giải pháp 5: Phối kết hợp với giáo viên trên lớp tuyên truyền với phụ huynh trong công tác nuôi dưỡng trẻ tại trường mầm non. Hàng năm nhân các buổi họp phụ huynh đầu năm nhà trường còn tổ chức tuyên truyền cho các bậc phụ huynh về cách chăm con theo khoa học, qua đó tạo sự chuyển biến cao trong nhận thức của mọi người về công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, về phòng trống suy dinh dưỡng và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Thông báo sức khỏe của từng trẻ trên bản tin của các lớp qua các đợt cân đo để phụ huynh nắm bắt được tình hình sức khỏe của con em mình để từ đó phối kết hợp với nhà trường trong công tác nuôi dưỡng trẻ. Hàng ngày, trẻ được chăm sóc 10 giờ/ 1 ngày ở trường còn lại là thời gian chăm sóc trẻ của các bậc phụ huynh tại gia đình. Nếu như trẻ chỉ được chăm sóc tại trường mà không có sự chăm sóc của gia đình thì trẻ sẽ không được chăm sóc một cách toàn diện. Chính vì vậy để trẻ được chăm sóc sức khỏe một cách toàn diện tốt nhất, phụ huynh là một cánh tay đắc lực phối hợp với nhà trường thực hiện tốt công việc này. Là cô nuôi để việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ đạt kết quả tốt, tôi thường xuyên kết hợp với giáo viên tham khảo ý kiến của phụ huynh trong các giờ đón trả trẻ, bài tuyên truyền để phổ biến tới các gia đình cách chăm sóc, chế biến thức ăn hợp lý, khoa học, đầy đủ chất dinh dưỡng giúp trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt. Tôi đã kết hợp với giáo viên lựa chọn các bài tuyên truyền chăm sóc sức khỏe
  19. 13 cho trẻ mầm non, cách chế biến món ăn phù hợp với trẻ không trùng với thực đơn của trường. Cách chăm sóc trẻ biếng ăn, trẻ béo phì, trẻ suy dinh dưỡng, trẻ bị bệnh, các thực phẩm xung khắc Bên cạnh đó tôi cùng nhân viên y tế trao đổi về kết quả cân đo của trẻ để có những biện pháp kịp thời khi có những trẻ bị suy dinh dưỡng, thấp còi Phụ huynh hiểu được chế độ ăn, nghỉ ngơi hợp lý của trẻ. Nắm chắc được thực đơn của nhà trường, hiểu được chế độ dinh dưỡng của trẻ. Phụ huynh phối hợp với giáo viên và cô nuôi để chăm sóc trẻ được tốt hơn, tham gia các biện pháp chăm sóc trẻ suy dinh dưỡng, thấp còi tại nhà. 3. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến tại đơn vị: Sau quá trình áp dụng Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ mầm non, tôi tiến hành khảo sát 09 cô nuôi; 385 trẻ và lập bảng so sánh. (Phụ lục 2) * Nhận xét. 3.1. Đối với phụ huynh: - Nhờ có sự kết hợp giữa giáo viên nhân viên trong trường và phụ huynh nên ngày càng có sự quan tâm nhiều hơn của phụ huynh về vấn đề nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ ở độ tuổi mầm non. - Phụ huynh tin tưởng và sẵn sàng phối hợp với nhà trường trong việc nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ ở trường mầm non cũng như ở nhà. 3.2. Đối với trẻ: - Tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng và thấp còi giảm đáng kể so với đầu năm. - Tỉ lệ suy dinh dưỡng giảm 5,56% so với đầu năm. - Tỉ lệ thấp còi giảm 4,23% so với đầu năm. 3.3. Đối với nhân viên nuôi dưỡng: - Phối hợp cùng đồng nghiệp chế biến cho trẻ những bữa ăn ngon, đảm bảo đầy đủ chất, cân đối tỷ lệ các chất dinh dưỡng và tuyệt đối đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. được nâng cao năng lực chuyên môn, sáng tạo hơn trong chế biến món ăn. Với biện pháp tham mưu với ban giám hiệu, kế toán xây dựng thực đơn, khẩu phần ăn hợp lý, đa dạng, giàu dinh dưỡng cho trẻ đã giúp tôi tạo ra những món ăn ngon, hấp dẫn, đủ chất dinh dưỡng mà lại tạo được cảm giác thèm ăn của trẻ Đồng thời với biện pháp vận dụng cách sơ chế, chế biến thực phẩm đảm bảo chất dinh dưỡng và thực hiện tốt các biện pháp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
  20. 14 đã góp phần vô cùng quan trọng trong công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ. Việc làm tốt biện pháp Phối kết hợp với giáo viên trên lớp tuyên truyền với phụ huynh trong công tác nuôi dưỡng trẻ tại trường mầm non đã giúp cho công tác nuôi dưỡng trẻ được tốt hơn. 4. Hiệu quả của sáng kiến: 4.1. Hiệu quả về khoa học: Qua trá trình thực hiện đề tài tôi thấy cô nuôi đã có những thay đổi rõ rệt trong việc xây dựng thực đơn phù hợp hơn đủ về lượng và chất, năng động phối hợp phân công theo dây truyền. Trẻ ăn ngon miệng, ăn hết xuất của mình. 4.2. Hiệu quả về kinh tế: Cô nuôi tiết kiệm được về thời gian, biết cách phối hợp dây truyền chế biến, không mất kinh phí vì tất cả nguồn tài liệu tôi download trên mạng internet không gây tốn kém về kinh tế áp dụng đối với trẻ hàng ngày. 4.3. Hiệu quả về xã hội: Qua việc nghiên cứu đề tài nâng cao chất lượng bữa ăn và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ mầm non dần dần nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên, nhân viên, phụ huynh và học sinh biết quan tâm hơn vấn đề nâng cao chất lượng bữa ăn và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ, cách lựa chọn các loại thực phẩm sạch khi ăn uống và cách chăm sóc cho trẻ hàng ngày. Trẻ phát triển hài hòa cân đối khỏe mạnh tăng cường sức đề khám giảm thiểu ốm đau trên trẻ góp phần phát triển cho xã hội. 5. Tính khả thi: Đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ mầm non” không chỉ áp dụng cho cán bộ giáo viên nhân viên của trường Mầm non 1- 6 mà còn có thể áp dụng cho các trường mầm non trong huyện Ba Vì có cùng điều kiện tương đồng. 6. Thời gian thực hiện đề tài, sáng kiến: Thời gian nghiên cứu: Bắt đầu từ tháng 9/2024 đến hết cuối tháng 3/2025 tại trường mầm non 1-6 Ba Vì. 7. Kinh phí thực hiện đè tài:
  21. 15 Đề tài sáng kiến kinh nghiệm sử dụng một phần kinh phí theo quy định cho phép. Ngoài ra không mất kinh phí vì tất cả nguồn tài liệu trong quá trình áp dụng, thử nghiệm tôi và đồng nghiệp tận dụng và download trên mạng internet. III. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT. 1. Đối với Phòng Giáo dục & Đào tạo huyện Phòng Giáo dục bồi dưỡng thêm về chuyên môn cho các cô nuôi thường xuyên hơn nữa để các cô có thêm nhiều kinh nghiệm hơn vận dụng vào công việc. Thường xuyên mở các lớp tập huấn cho cô nuôi học hỏi thêm về công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. 2. Đối với nhà trường Cần đầu tư thêm cơ sở vật chất. Cung cấp cho cô nuôi một số tài liệu về cách chế biến món ăn cho trẻ mầm non và tạo điều kiện các cô nuôi tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng chế biến món ăn cho trẻ. Phối kết hợp quan tâm của ban giám hiệu nhà trường cùng giáo viên, nhân viên và các chị em trong tổ nuôi ủng hộ giúp đỡ tôi hoàn thành tốt mọi công việc được giao. Tôi viết sáng kiến kinh nghiệm này nói lên những dòng suy nghĩ của bản thân tôi đã tích luỹ được nhờ qua trường lớp và hơn thế nữa là được thực tế tại trường mầm 1-6. Qua đây tôi mong muốn các cấp lãnh đạo, giáo viên và các đồng nghiệp tham gia góp ý giúp tôi để tôi hoàn thành đề tài, đồng thời bổ sung kiến thức cho tôi để thực hiện tốt hơn nghiệp vụ của mình trong công tác sau này. Tôi xin chân thành cảm ơn! Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh nghiệm của mình là do tôi tự viết không hề sao chép, nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm. Ba Vì, ngày tháng 03 năm 2025 XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN NGƯỜI VIẾT Ngô Thị Liên
  22. 16 MINH CHỨNG SÁNG KIẾN ĐÃ ĐƯỢC ĐĂNG TẢI TRÊN CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA TRƯỜNG MẦM NON 1-6 - BA VÌ – HÀ NỘI Link bài viết: _Ngo_Thi_Lien-_Nuoi_duong__89db4.pdf
  23. 17 MINH CHỨNG CÁC BIỆN PHÁP + Thống kê đầu năm - Đối với cô nuôi: Số Tốt Khá Đạt Chưa đạt STT Nội dung lượng Số Số Số Số % % % % NVND lượng lượng lượng lượng Xây dựng 1 9 3 33 4 44 1 11,5 1 11,5 thực đơn Phối hợp phân công 2 9 6 55 3 45 theo dây truyền Kỹ năng đảm 3 bảo vệ sinh 9 7 78 2 22 ATTP - Đối vớí trẻ: Nội dung Cân nặng Chiều cao Khối Số cháu BT SDD Béo phì BT TC Nhà trẻ 55 55 0 0 51 4 Mẫu giáo 330 304 26 0 307 23 Tổng 385 359 26 0 358 27 Tỷ lệ 100 93,2 6,8 0 93 7 Phụ lục 1
  24. 18 + Bảng so sánh đối chiếu số liệu trước và sau khi thực hiện: - Đối với cô nuôi: Đầu năm Cuối năm S Nội Chưa Chư T SL Tốt Khá Đạt Tốt Khá Đạt dung đạt a đạt T S S S S S S S % % % % SL % % % % L L L L L L L Xây 1 dựng 9 3 33 4 44 1 11,5 1 11,5 5 56 3 33 1 11 thực đơn Phối hợp phân 2 công 9 2 40 3 60 3 60 2 40 theo dây truyền Kỹ năng đảm bảo 3 9 3 60 2 40 4 80 1 20 vệ sinh ATTP - Đối vớí trẻ: Đầu năm Cuối năm Số Cân nặng Chiều cao Cân nặng Chiều cao Khối cháu Béo Béo BT SDD BT TC BT SDD BT TC phì phì Nhà trẻ 50 50 0 0 47 3 50 0 0 48 2 Mẫu 250 28 0 261 17 273 4 0 275 3 278 giáo 300 28 0 308 20 323 4 0 323 5 Tổng 328 100 93,46 6,54 0 93,77 6,23 98,75 1,25 0 98,44 1,56 Tỷ lệ Phụ lục 2
  25. 19 Ảnh 01: Bồi dưỡng chuyên môn Ảnh 02: Hội thi nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp trường, cấp huyện
  26. 20 Ảnh 03: Khẩu phần Kcalo 1 ngày của trẻ. Ảnh 04: Thực đơn của trẻ.
  27. 21 Ảnh 05: Giao nhận thực phẩm Ảnh 06 : Giờ ăn của trẻ nhà trẻ
  28. Ảnh 07: Mười nguyên tắc vàng Ảnh 08: Tủ sấy bát + tủ úp xoong.