Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ trong trường mầm non - Năm học 2024-2025 - Phùng Thị Phượng

pdf 28 trang duythuan 18/10/2026 30
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ trong trường mầm non - Năm học 2024-2025 - Phùng Thị Phượng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_giai_phap_dam_bao_ve_sinh_an_to.pdf

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ trong trường mầm non - Năm học 2024-2025 - Phùng Thị Phượng

  1. 1 ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ TRƯỜNG MẦM NON 1-6  SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TÊN SÁNG KIẾN MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM CHO TRẺ TRONG TRƯỜNG MẦM NON Lĩnh vực : Nuôi dưỡng Tên tác giả : Phùng Thị Phượng Đơn vị công tác: Trường Mầm non 1-6 Chức vụ : Nhân viên nuôi dưỡng NĂM HỌC 2024 – 2025
  2. 2 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Ngày Trình độ Nơi công Chức Họ và tên tháng năm chuyên Tên sáng kiến tác danh sinh môn Một số giải pháp đảm bảo Nhân Trường vệ sinh an toàn Phùng Thị viên 25/06/1990 mầm non Cao đẳng thực phẩm cho Phượng nuôi 1/6 Ba Vì trẻ trong dưỡng trường mầm non - Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Lĩnh vực nuôi dưỡng. - Tên sáng kiến đề nghị công nhận: “Mốt số giải pháp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ trong trường mầm non” tại trường mầm non 1-6. - Sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 17/9/2024 tại trường mầm non 1-6 Ba Vì. * Mô tả bản chất của sáng kiến: Điều tra thực trạng hiểu biết về vệ sinh an toàn thực phẩm của phụ huynh và học sinh trong trường. Hình thành cho trẻ khả năng tự phục vụ bản thân, có thể nhận biết và sử dụng được các thực phẩm thông thường, thực phẩm lành mạnh. Tìm ra được 7 giải pháp có tính ứng dụng cao giúp phụ huynh và học sinh có thêm kiến thức về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường học và cuộc sống hàng ngày. - Giải pháp 1: Tiếp thu kế hoạch chỉ đạo, quy chế chuyên môn về việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ trong trường mầm non. - Giải pháp 2: Nghiên cứu văn bản, tài liệu, tìm tòi và học hỏi kinh nghiệm để nâng cao hiểu biết về an toàn thực phẩm cho trẻ. - Giải pháp 3: Cách lựa chọn thực phẩm tươi ngon, đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm, phù hợp với lứa tuổi mầm non. - Giải pháp 4: Quy trình tiếp nhận thực phẩm và giao nhận thực phẩm.
  3. 3 - Giải pháp 5: Các biện pháp phòng nhiễm bẩn VSATTP, vệ sinh nơi sơ chế và chế biến. - Giải pháp 6: Tăng cường công tác vệ sinh. - Giải pháp 7: Tuyên truyền với phụ huynh về đảm bảo vệ sinh ATTP cho trẻ trong trường mầm non cũng như ở nhà. - Các điều kiện cần để áp dụng sáng kiến: về cơ sở vật chất, tài liệu, sự phối hợp thực hiện của nhân viên nuôi dưỡng, giáo viên, học sinh và sự ủng hộ của phụ huynh trường mầm non 1-6. - Đánh giá lợi ích thu được: sau một năm thực hiện đề tài: “Một số giải pháp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ trong trường mầm non”. Tôi thấy qua áp dụng sáng kiến kinh nghiệm vào thực hiện cho trẻ từ tháng 9/2024 đến tháng 3/2025 có kết quả đạt được như sau: + Nhân viên nuôi dưỡng và giáo viên trong trường học hỏi trau dồi kiến thức, phối hợp nhịp nhàng với nhau trong giờ cho trẻ ăn giúp đảm bảo tuyệt đối an toàn thực phẩm cho trẻ khi ăn ở trường mầm non. + Phụ huynh quan tâm đến vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ trong trường mầm non cũng như ở nhà. + 94% Trẻ biết và phân biệt được thực phẩm an toàn, sử dụng được đối với những thực phẩm thông thường. + 94% Trẻ biết ăn uống đủ chất, hợp lý, tự phục vụ, chăm sóc và giữ vệ sinh thân thể. Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Ba Vì, ngày tháng năm 2025 Người viết sáng kiến Phùng Thị Phượng
  4. 4 UBND HUYỆN BA VÌ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG MẦM NON 1-6 Độc lập - Tự do - Hạnh phúc PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ - Tên sáng kiến: “Một số giải pháp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ trong trường mầm non” - Tác giả sáng kiến: Phùng Thị Phượng - Họ tên người đánh giá: Phạm Thị Thủy – Phó hiệu trưởng - Cơ quan công tác: Trường Mầm non 1-6. Nhận xét 1. Nội dung 1: Sáng kiến có tính mới, sáng tạo, tiên tiến: 45 điểm. 1.1. Sáng kiến có tính mới, phù hợp với thực tiễn của cơ quan, đơn vị và đối tượng nghiên cứu áp dụng: 20 điểm Sáng kiến phù hợp với thực tiễn nhà trường, đưa ra các biện pháp đảm bảo vệ sinh an toàn cho trẻ tại trường mầm non. Sáng kiến có tính mới, sáng tạo. Có ví dụ và minh chứng tường minh cho hiệu quả của các giải pháp mới giúp trau dồi kiến thức, đảm bảo tuyệt đối an toàn thực phẩm cho trẻ; giúp trẻ ăn uống đủ chất và phân biệt được những thực phẩm an toàn. Điểm đánh giá: 16 điểm. 1.2. Sáng kiến nêu rõ sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ: 5 điểm Sáng kiến đã chỉ ra sự khác biệt của giải pháp mới. Nhân viên lựa chọn thực phẩm tươi ngon, đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm phù hợp với lứa tuổi mầm non. Sau khi áp dụng đội ngũ nhân viên trau dồi kiến thức, đảm bảo tuyệt đối an toàn thực phẩm cho trẻ. Điểm đánh giá: 5 điểm. 1.3. Sáng kiến nêu rõ cách làm, giải pháp mới, phân tích thể hiện sự sáng tạo, hiệu quả: 20 điểm Các biện pháp được trình bày cụ thể, sáng tạo, bao gồm: Lựa chọn thực phẩm tươi ngon đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm, phù hợp với lứa tuổi mầm non. Điểm đánh giá: 15 điểm. 2. Nội dung 2: Sáng kiến có khả năng áp dụng: 30 điểm. 2.1. Sáng kiến có nêu nội dung so sánh số liệu, kết quả giữa trước và sau khi áp dụng thực hiện cách làm, giải pháp mới: 10 điểm.
  5. 5 Sáng kiến có tính ứng dụng, đã được áp dụng hiệu quả ở tại trường Mầm non 1-6, dự báo có khả năng ứng dụng, phát triển rộng rãi tới các trường khác có cùng điều kiện trong toàn ngành. Sáng kiến đã có số liệu khảo sát cụ thể, bảng đối chiếu kết quả trước và sau khi áp dụng, thể hiện rõ hiệu quả trong việc phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ mầm non. Điểm đánh giá: 9 điểm. 2.2. Sáng kiến có nêu được nội dung khả năng áp dụng cho các đơn vị, cá nhân cùng lĩnh vực; có thể áp dụng rộng rãi ở nhiều đơn vị. 20 điểm. Sáng kiến có tính thực tiễn cao, có thể áp dụng rộng rãi trong các trường mầm non khác trong huyện. Các biện pháp linh hoạt, phù hợp với nhân viên nuôi dưỡng và học sinh, giúp nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho trẻ, Các biện pháp phòng nhiễm bẩn VSATTP, vệ sinh nơi sơ chế và chế biến. Điểm đánh giá: 16 điểm. 3. Nội dung 3: Sáng kiến mang lại hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến: 20 điểm Sáng kiến đã được áp dụng tại Trường Mầm non 1-6 và mang lại kết quả tích cực. Sáng kiến phù hợp với thực tiễn nhà trường, đưa ra các biện pháp đảm bảo an toàn vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ trong trường mầm non. Sáng kiến đã làm rõ được vai trò của chất lượng đảm bảo an toàn vệ sinh an toàn thực phẩm đối với học sinh ,phù hợp với thực tế của nhà trường. Đem lại kết quả cho nhân viên và trẻ có thể lan tỏa ra các trường bạn. Điểm đánh giá: 15 điểm 4. Nội dung 4. Về hình thức: 5 điểm. Sáng kiến được trình bày khoa học, logic, bố cục rõ ràng, dễ hiểu, đảm bảo đúng thể thức văn bản. Điểm đánh giá: 4 điểm Tổng số điểm sáng kiến: 80 điểm Kết quả đánh giá (SKKN đánh giá Đạt 80 điểm) - Đạt  - Không đạt □ NGƯỜI ĐÁNH GIÁ
  6. 6 MỤC LỤC NỘI DUNG TRANG I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến 1 2.Mục tiêu của đề tài, sáng kiến 1 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2 3.1. Thời gian nghiên cứu. 2 3.2. Đối tượng nghiên cứu. 2 3.3. Phạm vi nghiên cứu. 2 II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 2 1. Hiện trạng vấn đề 2 2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề 4 2.1. Giải pháp 1: Tiếp thu kế hoạch chỉ đạo, quy chế chuyên môn về việc 4 đảm bảo vệ sinh ATTP cho trẻ trong trường mầm non. 2.2. Giải pháp 2: Nghiên cứu văn bản, tài liệu, tìm tòi và học hỏi kinh 4 nghiệm để nâng cao hiểu biết về an toàn thực phẩm cho trẻ. 2.3. Giải pháp 3: Cách lựa chọn thực phẩm tươi ngon đảm bảo chất 5 lượng, an toàn thực phẩm, phù hợp với lứa tuổi mầm non 2.4. Giải pháp 4: Quy trình tiếp nhận thực phẩm và giao nhận thực phẩm. 6 2.5. Giải pháp 5: Các biện pháp phòng nhiễm bẩn VSATTP, vệ sinh nơi 7 sơ chế và chế biến. 2.6. Giải pháp 6: Tăng cường công tác vệ sinh. 7 2.7. Giải pháp 7: Tuyên truyền với phụ huynh về đảm bảo vệ sinh ATTP 9 cho trẻ trong trường mầm non cũng như ở nhà 3. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến tại đơn vị. 10 3.1. Đối với phụ huynh 10 3.2. Đối với học sinh 10 3.3. Đối với nhân viên nuôi dưỡng 11 4. Hiệu quả của sáng kiến 11 4.1. Hiệu quả về khoa học 11 4.2. Hiệu quả về kinh tế 12 4.3. Hiệu quả về xã hội 12 5. Tính khả thi 12 6. Thời gian thực hiện đề tài, sáng kiến 12 7. Kinh phí thực hiện đề tài, sáng kiến 13 III. KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT 13 1. 1. Đối với phòng giáo dục và đào tạo 13 2. 2. Đối với nhà trường 13
  7. 7 I. ĐẶT VẤN ĐỀ: 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến kinh nghiệm: Mục tiêu giáo dục mầm non là hình thành cho trẻ những yếu tố nhân cách đầu tiền của con người. Trẻ được phát triển toàn diện về 5 mặt: nhận thức, thể chất, ngôn ngữ, tình cảm – xã hội và thẩm mỹ. Để đạt được mục tiêu giúp trẻ phát triển toàn diện thì ta cần kết hợp hài hòa giữa chăm sóc nuôi dưỡng và chăm sóc giáo dục. Ngày nay với sự phát triển chung của xã hội, mỗi gia đình đều có cuộc sống đầy đủ, sung túc hơn, trình độ dân trí cũng ngày được nâng cao. Nên việc chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ mầm non cũng được gia đình và xã hội đặc biệt quan tâm. Vậy quan tâm như thế nào là đúng mực để cơ thể trẻ khoẻ mạnh, học tốt phát triển cân đối thì trước tiên ta phải có một chế độ ăn uống hợp lý, khoa học nhằm giúp trẻ ăn uống ngon miệng nhưng luôn đảm bảo vệ sinh an toàn thựcphẩm. Tuy nhiên vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay đang là mối quan tâm lớn nhất của toàn xã hội từ khâu sản xuất đến khâu tiêu dùng. Đối với ngành giáo dục nói chung trong đó có bậc học mầm non thì việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ đóng vai trò vô cùng quan trọng. Nó giúp trẻ có chế độ ăn hợp lý, khoa học để trẻ có một cơ thể phát triển khỏe mạnh cả về thể lực và trí tuệ. Trường mầm non là nơi tập trung đông trẻ, bản thân trẻ còn nhỏ bé, trẻ chưa nhận thức được đầy đủ về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm, nếu xảy ra ngộ độc thực phẩm ở lứa tuổi này thì hậu quả rất nghiêm trọng. Cho nên việc giáo dục dinh dưỡng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. xây dựng quy chế thực phẩm sạch, đề phòng ngộ độc thức ăn là vấn đề có ý nghĩa thực tế, thiết thực và vô cùng quan trọng trong trường mầm non. Nhận thấy rõ tầm quan trọng của vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, nên tôi chọn đề tài “Một số giải pháp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ trong trường mầm non”. Đây cũng là thông điệp tôi muốn gửi đến cộng đồng để quan tâm hơn đến vấn đề chăm sóc sức khỏe của trẻ, cùng nhau thực hiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm mọi lúc mọi nơi đặc biệt là trong trường học. 2. Mục tiêu của sáng kiến kinh nghiệm:
  8. 8 - Góp phần nâng cao nhận thức,kỹ năng, thực hành đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm của giáo viên, nhân viên và phụ huynh cho trẻ tại trường mầm non và cả cộng đồng. - Tránh xa ngộ độc thực phẩm, đem lại niềm tin cho phụ huynh khi cho trẻ ăn bán trú tại trường. - Giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất. Để cơ thể trẻ phát triển cân đối, tăng cường sức đề kháng cho cơ thể, giảm nguy cơ mắc bệnh. Giúp trẻ có sức khỏe tốt , ổn định sẵn sang tham gia mọi hoạt động ở trường mầm non. - Giúp nhân viên nuôi dưỡng có thêm kinh nghiệm lựa chọn những thực phẩm tươi ngon, sạch không bị nhiễm độc hại. Đồng thời chế biến món ăn cho trẻ sao cho ngon mắt, ngon mũi, ngon miệng. - Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ trong trường mầm non, không để xảy ra các bệnh truyền qua đường thực phẩm. 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên nghiên cứu: 3.1. Thời gian nghiên cứu: - Một năm học từ tháng 9 năm 2024 đến tháng 03 năm 2025. 3.2. Đối tượng nghiên cứu: - Trẻ mầm non tại Trường mầm non 1-6 Ba Vì. 3.3. Phạm vi nghiên cứu: - 385 trẻ tại Trường mầm non 1-6 tôi đang công tác Huyện Ba vì , Thành phố Hà Nội. II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 1. Hiện trạng vấn đề: a. Thuận lợi: * Đối với nhà trường: - Nhà trường thường xuyên tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất cho nhân viên nuôi dưỡng thực hiện các biện pháp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. - Xây dựng quy chế triển khai tới 100% cán bộ giáo viên , nhân viên thực hiện nghiêm túc việc đảm bảo an toàn thực phẩm cho trẻ trong trường mọi lúc mọi nơi.
  9. 9 - Nhà trường phối hợp với giáo viên ở các nhóm lớp, thường xuyện xây dựng các mục, bảng biểu tuyên truyền tới phụ huynh về vấn đề đảm bảo an toàn thực phẩm cho trẻ tại nhà. - BGH thường xuyên cập nhật các văn bản chỉ đạo của cấp trên và biện pháp đảm bảo an toàn thực phẩm trong tình hình mới. * Đối với nhân viên nuôi dưỡng: - Được tiếp thu các văn bản chỉ đạo, quy chế chuyên môn của cấp trên về an toàn thực phẩm. - Được trang bị đầy đủ trang thiết bị đồ dùng chế biến, bảo hộ lao động. - 100% trẻ ăn bán trú tại trường. - Nhân viên nuôi dưỡng có đủ chuyên môn nghiệp vụ kỹ thuật chế biến món ăn và sự yêu nghề, mến trẻ. * Đối với phụ huynh: - Phần lớn các bậc phụ huynh rất quan tâm vấn đề nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ mầm non. - Luôn ủng hộ các chương trình, biện pháp mà nhà trường đưa ra để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ tại trường mầm non. b. Khó khăn: - Điểm trường của chúng tôi nằm trên thị trấn, trường có diện tích hạn chế nên còn chật hẹp, bếp chưa được nâng cấp nên việc vệ sinh an toàn thực phẩm còn gặp nhiều khó khăn. - Nhận thức của một số phụ huynh về an toàn thực phẩm cho trẻ còn thấp, sự hiểu biết về tầm quan trọng của dinh dưỡng cũng còn hạn chế nên còn khó khăn trong công tác nuôi dưỡng. - Thói quen sinh hoạt của trẻ còn chưa đồng đều. - Kinh phí cho giáo dục mầm non còn hạn chế nên việc trang thiết bị các phương tiện làm việc hiện đại đôi lúc còn chưa kịp thời. - Chế độ đãi ngộ đối với nhân viên nuôi dưỡng trong trường mầm non chưa được quan tâm thỏa đáng. * Khảo sát thực trạng: Tôi nhờ giáo viên khảo sát với 385 trẻ trong trường:
  10. 10 Trẻ đạt Trẻ chưa đạt S NỘI DUNG Tỷ lệ Tỷ lệ TT Số trẻ Số trẻ % % 1Phụ huynh quan tâm đến vấn đề vệ sinh 1 an toàn thực phẩm cho trẻ trong trường 234/385 60,7 151/385 39,3 mầm non. 2Trẻ biết và phân biệt được thực phẩm 2 an toàn, sử dụng được đối với những 247/385 64,1 138/385 35,9 thực phẩm thông thường. 3Trẻ biết ăn uống đủ chất, hợp lý, tự 3 phục vụ, chăm sóc và giữ vệ sinh thân 263/385 68,3 122/385 31,7 thể. - Đa phần trẻ là con thuần nông, bố mẹ còn thiếu kiến thức, hiểu chưa đầy đủ về vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm đối với lứa tuổi mầm non. Thậm chí nhiều gia đình bố mẹ đi làm ăn xa để trẻ ở nhà với ông bà không được chăm sóc chu đáo nên có phần làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ. - Số trẻ nắm bắt kiến thức về an toàn thực phẩm còn thấp, trẻ chưa nhận biết được tầm quan trọng của an toàn thực phẩm đối với sức khỏe con người. 2. Giải pháp thực hiện sáng kiến: 2.1. Giải pháp 1: Tiếp thu kế hoạch chỉ đạo, quy chế chuyên môn về việc đảm bảo vệ sinh ATTP cho trẻ trong trường mầm non. Ngay từ đầu năm học: Nhà trường tổ chức họp, Ban lãnh đạo nhà trường thống nhất chế độ ăn uống, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các văn bản, quy chế chuyên môn, kế hoạch chăm sóc nuôi dưỡng để thực hiện tốt việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ tại trường mầm non. Tôi cùng các đồng chí nhân viên nuôi dưỡng trong tổ thực hiện theo chỉ đạo của ban giám hiệu kế hoạch chăm sóc nuôi dưỡng và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho mọi lứa tuổi ở trường mầm non. Kết hợp với ban giám hiệu, kế toán xây dựng thực đơn, tính khẩu phần ăn hàng ngày, hàng tuần, theo mùa hợp lý đảm bảo cân đối giữa các chất dinh dưỡng,
  11. 11 tỷ lệ calo đảm bảo an toàn thực phẩm. Sau đó kết hợp với phụ huynh học sinh để nghiêm túc thực hiện ngay đầu năm học. (Ảnh 01) 2.2. Giải pháp 2: Nghiên cứu văn bản, tài liệu, tìm tòi và học hỏi kinh nghiệm để nâng cao hiểu biết về an toàn thực phẩm cho trẻ. Với câu nói “Đi một ngày đàng học một sàng khôn” cho thấy việc chúng ta phải học nữa, học mãi là điều vô cùng quan trọng. Đối với mỗi con người chúng ta dù có đi làm một việc gì đi chăng nữa, chúng ta không chỉ làm việc mà phải luôn tìm tòi học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn của mình để tốt hơn. Đặc biệt nhân viên nuôi dưỡng là người trực tiếp chế biến ra các món ăn để chăm sóc sức khoẻ cho trẻ ở trường mầm non thì vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ lại càng quan trọng hơn nữa. Hiểu được điều đó nên tôi đã không ngừng học hỏi, tìm tòi qua những người xung quanh, qua đồng nghiệp, những kênh truyền hình thông tin đại chúng liên quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm như: thời sự, sách báo - Tôi luôn hỏi đồng nghiệp, dành thời gian nghiên cứu tài liệu chuyên môn để có kiến thức, kinh nghiệm chế biến ăn cho trẻ sao cho đúng kỹ năng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm để trẻ dễ ăn, ăn ngon miệng. - Tôi tìm đọc những cuốn sách hay nói về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm để nâng cao kiến thức chế biến ăn hàng ngày cho trẻ đảm bảo cho trẻ luôn có thức ăn ngon, có mùi vị và màu sắc hấp dẫn. - Tích cực học tập quy chế chuyên môn, nhiệm vụ năm học của nhà trường, tham gia thi “Nhân viên giỏi cấp trường”, Tham gia hội thi “Nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp Huyện” để trau dồi kiến thức, có thêm kinh nghiệm trong đảm bảo an toàn thực phẩm cho trẻ. (Ảnh 02) - Học tập đồng nghiệp qua việc sinh hoạt tổ hàng tháng, qua công việc hàng ngày, cùng bàn bạc trao đổi với chia sẻ kinh nghiệm và kiến nghị đề xuất những vấn đề còn vướng mắc khó khăn của mình. Qua việc học tập, nghiên cứu tài liệu, bồi dưỡng chuyên môn bản thân đã có nhiều kiến thức, kinh nghiệm trong việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
  12. 12 cho trẻ. Điều đó giúp tôi tự tin hơn khi tuyên truyền với phụ huynh về an toàn thực phẩm cho trẻ ở trường mầm non và ở nhà. 2.3. Giải pháp 3: Cách lựa chọn thực phẩm tươi ngon đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm, phù hợp với lứa tuổi mầm non. Trong những năm gần đây nền kinh tế của nước ta chuyển sang cơ chế thị trường và đời sống ngày càng được nâng cao, nhưng xen vào đó là các loại thực phẩm không rõ nguồn gốc hoặc các sản phẩm mà nhà sản xuất, chế biến đã sử dụng các chất phụ gia, chất bảo quản, phẩm màu, chất hóa học như: thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, hoá chất kích thích tăng trưởng và thuốc bảo quản không theo quy định. Đã làm tồn dư các loại hoá chất này trong thực phẩm làm cho con người ăn vào và lâu ngày tích trong cơ thể biét bao nhiêu loại bênh nguy hiểm như: ung thư, ngộ độc thức ăn Vậy lựa chọn thực phẩm an toàn là một trong những yếu tố quan trọng giảm thiểu được nguy cơ ngộ độc thực phẩm trong nhà trường. Do đó việc lựa chọn thực phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phù hợp với lứa tuổi mầm non là rất quan trọng vì nó quyết định đến chất lượng bữa ăn có đảm bảo vệ sinh, phù hợp với trẻ, trẻ ăn có ngon miệng hay không. Sau đây là một số bí quyết của tôi trong việc lựa chọn thực phẩm: Ví dụ: Cách chọn thịt tươi sống: + Đối với thịt lợn: Lựa chọn thịt có mỡ màu trắng và thịt nạc có màu đỏ tươi không có màu lạ khác, bề mặt của thịt phải khô không nhớt, độ đàn hồi cao, mùi thơm tự nhiên không có mùi hôi. Tránh mua phải thịt bị mắc bệnh như: tụ huyết trùng, sán gạo + Đối với thịt gà: Chọn thịt mềm dẻo, thớ thịt săn chắc, đầu sườn có màu trắng hồng, da thịt mỏng có màu trắng vàng tự nhiên không có nốt thâm tím ở ngoài da, không có vết gì lạ. + Đối với thịt bò: Chọn thịt có màu đỏ tươi, mỡ màu vàng nhạt, thớ thịt nhỏ săn chắc, mềm dẻo có mùi thơm đặc trưng. + Đối với tôm: chúng ta cần chọn những con còn sống, còn nguyên con , mình của tôm phải có độ bóng, sáng, trong xanh, trơn láng, cứng và dai, sờ vào có cảm giác mềm dẻo, căng tự nhiên, độ đàn hồi cao; ngửi có mùi tanh đặc trưng, không có mùi lạ (như mùi khai, mùi hắc, mùi hôi ).
  13. 13 + Đối với cá: Chọn những con cá bơi khoẻ, còn nguyên vẩy không bị trầy sước. Mắt cá sáng và hơi lồi, mang có màu đỏ tươi, mình cá ít nhớt, có mùi tanh đặc trưng. + Cua: chọn con to vừa phải, còn sống, tuyệt đối không chọn những con đã chết vì khi cua chết sẽ sinh ra nhiều độc tố. + Đối với trứng: chọn quả vỏ sạch, màu tươi sáng, vỏ không nứt vỡ, cầm trứng lắc nhẹ nếu không nghe thấy tiếng kêu là trứng tươi, dùng ngón trỏ và ngón cái cầm vào hai đầu của quả trứng giơ về phía ánh sáng, nhìn phía đầu to của quả trứng nếu thấy kích thước bóng khí nhỏ đó là trứng mới. (Ảnh 03) Ví dụ: Cách lựa chọn các loại rau, củ, quả: + Đối với rau: chúng ta cần lựa chọn rau phải tươi ngon không bị dập nát hoặc vàng úa, không quá non Không nên chọn rau xanh mướt vì rất có thể đã sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hoặc phân bón lá vẫn còn tồn dư trong rau và lá. Đối với các loại rau củ, quả chọn các loại củ trơn nhẵn, không bị dập nát, màu sắc tươi sáng, không chọn mua củ đã mọc mầm. + Đối với các loại hàng khô như: gạo, mì, miến, nấm hương, mộc nhĩ, lạc, đỗ chúng ta không lựa chọn những thực phẩm bị mốc, mọt, nhất là khi chọn gạo, lạc, vừng, nấm hương, mọc nhĩ nên chọn những loại gạo ngon, không có mẩy chấu, không có sạn, không có mọt, không có mùi hôi, không bị mốc Được đóng gói ghi rõ cơ sở sản xuất, đầy đủ thông tin trên nhãn mác như tên sản phẩm, thành phần, giá trị dinh dưỡng, trọng lượng, hướng dẫn sử dụng và bảo quản Mộc nhĩ nên chọn loại cánh to, dày, màu vàng sáng khi nấu sẽ giòn và ngon, đối với các loại nấm khô nên chọn những nấm có màu vàng sáng, chân nấm nhỏ và ngắn + Đối với những thực phẩm làm gia vị: nước mắm, dầu ăn chúng nên chú ý đến hãng sản xuất, thời hạn sử dụng của sản phẩm để đảm bảo được an toàn. Nếu chúng ta lựa chọn những thực phẩm không đảm bảo vệ sinh, tươi ngon thì bữa ăn của trẻ sẽ không mang lại giá trị dinh dưỡng cao. 2.4. Giải pháp 4: Quy trình tiếp nhận thực phẩm và giao nhận thực phẩm. Đối với nhân viên nuôi dưỡng là người trực tiếp tiếp nhận nguồn thực phẩm theo hợp đồng do nhà cung cấp cung ứng, nên tuyệt đối không tiếp nhận thực
  14. 14 phẩm không rõ nguồn gốc, quá hạn sử dụng (đối với những thực phẩm đóng gói). Không tiếp nhận những thực phẩm đã qua sơ chế, chế biến nhưng không rõ nguồn gốc, nơi sản xuất, giấy phép đăng ký, hạn sử dụng . Đặc biệt không tiếp nhận thực phẩm không đảm bảo chất lượng như: rau củ quả, cá, thịt không tươi ngon. Nhân viên nuôi dưỡng khi tiếp nhận thực phẩm phải có sổ ghi chép thời gian nhận thực phẩm về định lượng và tình trạng thực phẩm. Những thực phẩm bị dập nát, có dấu hiệu không tươi ngon, nghi ngờ hư hỏng, không đảm bảo chất lượng, không đúng với hợp đồng thì không tiếp nhận và chế biến cho trẻ. Khi giao nhận thực phẩm ngoài nhân viên nuôi dưỡng còn có đại diện ban giám hiệu, bên giao thực phẩm, giáo viên chủ nhiệm lớp và kế toán. (Ảnh 04) 2.5. Giải pháp 5: Các biện pháp phòng nhiễm bẩn VSATTP, vệ sinh nơi sơ chế và chế biến. - Nhà trường đảm bảo có bếp ăn 1 chiều, đảm bảo thoáng khí và đủ ánh sáng, không chồng chéo trong các khâu giao nhận, sơ chế, chế biến tiết kiệm tối đa thời gian. Đồng thời tránh sự va chạm tối đa của các thực phẩm sống và thực phẩm chin, đảm bảo an toàn thực phẩm. - Nơi sơ chế và chế biến thực phẩm luôn luôn được vệ sinh sạch sẽ. Có đồ dùng dụng cụ riêng biệt cho thực phẩm sống và thực phẩm chín. (Ảnh 05 + 06) - Bếp có đủ dụng cụ cho nhà bếp và đồ dùng ăn uống cho trẻ, có nguồn nước sạch phục vụ cho chế biến và cho trẻ sử dụng hàng ngày. Có bảng tuyên truyền 10 nguyên tắc vàng về vệ sinh an toàn thực phẩm cho giáo viên cùng đọc và thực hiện. - Chế biến món ăn cho trẻ theo định lượng, số lượng đã cân đối của nhà trường đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng, hợp vệ sinh và an toàn thực phẩm. - Thường xuyên cọ rửa các dụng cụ chế biến thực phẩm hàng ngày sau khi sơ chế và chế biến. - Thùng chứa rác thải có nắp đậy, luôn để đúng nơi quy định. - Nhân viên nuôi dưỡng mặc trang phục bảo hộ trong quá trình làm việc: mang tạp dề, đội mũ, đeo khẩu trang, không đeo trang sức, sơn móng tay, đeo
  15. 15 gang tay khi chia thức ăn cho trẻ, rửa tay bằng xà phòng trước khi chế biến và khi chia thức ăn cho trẻ. - Ngoài công tác vệ sinh hàng ngày, hàng tuần tổ bếp tổng vệ sinh toàn bộ khu vực xung quanh bếp, vệ sinh dụng cụ nhà bếp, khu sơ chế, khu chế biến, khu chia thức ăn. 2.6. Giải pháp 6: Tăng cường công tác vệ sinh. a. Nguồn nước: Nước là một loại nguyên liệu không thể thiếu và nó được sử dụng nhiều công đoạn chế biến thực phẩm và vệ sinh trong sinh hoạt hàng ngày đối với trẻ. Nước nhiễm bẩn sẽ tạo nguy cơ không tốt cho sức khỏe của trẻ. Dùng nước an toàn trong chế biến thực phẩm phải là nước sạch lấy từ giếng khoan, nước máy và nước phải được kiểm định về vệ sinh mỗi năm một lần. Nhà trường đã sử dụng nguồn nước sạch trong chế biến cho trẻ để tránh gây ngộ độc thức ăn và các chứng bệnh ngoài da. Nước uống được đun sôi và đựng trong bình Inox có nắp đậy. Tất cả các lớp đều có bình nước và được cọ rửa hàng ngày. b. Xử lý chất thải: Đối với trường mầm non có ăn bán trú thì có rất nhiều loại chất thải khác nhau như: nước thải từ nhà bếp, khu vệ sinh tự hoại, rác thải từ rau củ quả, các loại bao nilon, đồ sinh hoạt thừa, vỏ hộp sữa . Nếu không có biện pháp xử lý tốt sẽ làm ô nhiễm môi trường. Các loại rác thải là nơi tập trung và phát triển của các loại côn trùng và chúng bay đến đậu vào thức ăn cũng sẽ gây nên các mầm bệnh, ngộ độc thức ăn. Chính vì những mối nguy hiểm đó hàng ngày bản thân tôi và đồng nghiệp luôn thực hiện: chất thải cho vào thùng rác có nắp đậy, rác thải được nhà trường ký hợp đồng với phòng vệ sinh môi trường được thu gom và xử lý hàng ngày. Xây dựng môi trường xanh sạch đẹp giúp học sinh có kỹ năng bảo vệ, chăm sóc cảnh quan môi trường, giữ vệ sinh cá nhân, vệ sinh công cộng, biết bỏ rác đúng nơi quy định. c. Đối với nhân viên nuôi dưỡng: Được khám sức khỏe định kỳ, được bố trí nơi thay quần áo và nơi vệ sinh riêng, không dùng chung với khu chế biến thức ăn cho trẻ. Nhân viên nuôi dưỡng được tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm
  16. 16 giúp nhân viên nuôi dưỡng hiểu được trách nhiệm của mình là luôn luôn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ ở trường mầm non. Bản thân tôi luôn thực hiện nghiêm túc khâu vệ sinh cá nhân trong quá trình chế biến chế biến ăn cho trẻ, luôn sử dụng đồ dùng bảo hộ lao động như: đeo tạp dề, khẩu trang, đi ủng, gang tay, đầu tóc gọn gàng, móng tay chân cắt ngắn sạch sẽ. Rửa tay bằng xà phòng trước và sau khi chế biến món ăn cho trẻ, khi tay bẩn và sau khi đi vệ sinh. Không khạc nhổ trong lúc chế biến thức ăn cho trẻ. (Ảnh 07) Luôn tuân thủ theo quy trình sử dụng đồ dùng, dụng cụ chế biến thức ăn theo nguyên tắc một chiều, tuyệt đối không sử dụng đồ dùng, dụng cụ đựng, chế biến thực phẩm sống lẫn thực phẩm chin. Khi chia thức ăn cho trẻ phải đeo khẩu trang, gang tay và chia thức ăn cho trẻ bằng dụng cụ, tuyệt đối không dùng tay để bốc và chia thức ăn. Thực hiện nghiêm túc việc phân chia thức ăn cho trẻ đảm bảo số lượng và định lượng. d. Đối với giáo viên phụ trách lớp: Giáo viên chủ nhiệm là người trực tiếp chăm sóc trẻ trong trường mầm non có ăn bán trú. Nên công tác vệ sinh cá nhân của cô giáo cũng là yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ. Vì vậy cô giáo phải rửa tay bằng xà phòng trước khi chia thức ăn, sau khi đi vệ sinh và đeo khẩu trang, gang tay, dùng dụng cụ chia thức ăn riêng trong khi chia thức ăn cho trẻ. Chuẩn bị đầy đủ bàn ghế, khăn lau tay, đĩa đựng thức ăn rơi thừa cho trẻ, cô luôn động viên trẻ ăn hết suất. (Ảnh 08) Giáo viên luôn ứng xử nhẹ nhàng đối với trẻ mọi lúc mọi nơi để tạo cho trẻ một tâm thế ổn định về thể chất lẫn tinh thần. Và không ngừng thu thập, tìm hiểu những thông tin về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với trẻ nói chung và người tiêu dùng nói chung, để rút ra những kinh nghiệm trong việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong lớp. e. Đối với cá nhân trẻ: Trẻ được rửa tay trước khi ăn bằng xà phòng dước vòi nước chảy, rửa xong dùng khăn lau khô tay theo 6 bước cơ bản
  17. 17 Trẻ rửa tay sau đi vệ sinh và khi tay bẩn, luôn cắt ngắn móng tay móng chân vì đây là những nơi vi khuẩn có thể xâm nhập vào cơ thể trẻ thông qua nhiều hình thức như: trẻ vô tình cầm nắm bốc thức ăn bằng tay Dạy trẻ có thói quan biết giữ gìn vệ sinh trong ăn uống. Ăn chin uống sôi, thói quen ăn uống văn minh, ăn chậm nhai kỹ, ăn uống từ tốn tránh rơi vãi, khi thức ăn rơi vãi nhặt bỏ vào đúng nơi quy định như đĩa bỏ thức ăn thừa. Khi ăn xong trẻ biết đánh rang, súc miệng và uống nước. 2.7. Giải pháp 7: Tuyên truyền với phụ huynh về đảm bảo vệ sinh ATTP cho trẻ trong trường mầm non cũng như ở nhà. Trong những buổi họp phụ huynh học sinh dưới sự giúp đỡ của Ban Giám Hiệu tôi đã tuyên truyền đến phụ huynh tầm quan trọng trong việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ ở trường Mầm Non cũng như ở nhà. Hàng ngày tôi đã lên phụ lớp, kết hợp với giáo viên để tuyên truyền, vận động tới phụ huynh về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ ở trường cũng như ở nhà và mọi lúc mọi nơi. Phối hợp với hội cha mẹ học sinh giám sát quy trình chế biến và chất lượng bữa ăn cho trẻ. Giúp cho phụ huynh nhận thức và có trách nhiệm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ ngay những lúc trẻ không đến trường. Xây dựng 10 nguyên tắc vàng về vệ sinh an toàn thực phẩm cho nhân viên nuôi dưỡng và lời khuyên dinh dưỡng hợp lý cho phụ huynh và nhân dân cùng biết. 3. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến tại đơn vị: Sau một năm thực hiện đề tài, tôi nhận thấy với việc xây dựng kế hoạch đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ ở trường mầm non và ở nhà đã thu được một số kết quả như sau: 3.1. Đối với phụ huynh: - Nhờ có sự kết hợp giữa giáo viên nhân viên trong trường và phụ huynh nên ngày càng có sự quan tâm nhiều hơn của phụ huynh về vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ ở độ tuổi mầm non. - Phụ huynh tin tưởng và sẵn sàng phối hợp với nhà trường trong việc giáo dục cho trẻ vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm ở trường mầm non cũng như ở nhà. 3.2. Đối với học sinh:
  18. 18 - Đa số trẻ đã hình thành được kỹ năng tự chăm sóc bản thân. - Trẻ thích tham gia các hoạt động trải nghiệm có liên quan đến thực phẩm và an toàn thực phẩm. - 94% Trẻ biết và phân biệt được thực phẩm an toàn, sử dụng được đối với những thực phẩm thông thường. - 94% Trẻ biết ăn uống đủ chất, hợp lý, tự phục vụ, chăm sóc và giữ vệ sinh thân thể. BẢNG KHẢO SÁT CUỐI NĂM So Đầu năm Cuối năm sánh Nội dung khảo Ch TT Tỷ Chưa Tỷ lệ Tỷ lệ Tỷ sát Đạt Đạt ưa lệ % đạt % % lệ % đạt Ph1 ụ huynh quan 1 tâm đến vấn đề Tăng vệ sinh an toàn 234/ 60,7 151/ 39,3 351/ 30/ 91% 9% 30,3 thực phẩm cho 385 % 385 % 385 385 % trẻ trong trường mầm non. Tr2 ẻ biết và phân 2 biệt được thực phẩm an toàn, 247/ 138/ 362/ 23/ Tăng sử dụng được 64,1 35,9 94% 6% 385 385 385 385 29,9 đối với những thực phẩm thông thường. Tr3 ẻ biết ăn uống 3 đủ chất, hợp Tăng 257/ 128/ 363/ lý, tự phục vụ, 66,7 33,3 94% 22 6% 27,3 385 385 358 chăm sóc và giữ % vệ sinh thân thể.
  19. 19 3.3. Đối với nhân viên nuôi dưỡng: - Phối hợp cùng đồng nghiệp chế biến cho trẻ những bữa ăn ngon, đảm bảo đầy đủ chất, cân đối tỷ lệ các chất dinh dưỡng và tuyệt đối đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. - Làm tốt dây chuyền chế biến thức ăn cho trẻ, giúp trẻ phát triển cân đối, hài hòa, hoạt bát, tích cực tham gia vào các hoạt động hàng ngày. Trong năm không xảy ra ngộ độc thực phẩm, tạo được sự tin tưởng của phụ huynh học sinh khi gửi con trẻ ở trường. - Thực hiện sát sao việc giao nhận thực phẩm, quá trình chế biến, chia định lượng thực phẩm chín và tổ chức cho trẻ ăn trên lớp. - Hiểu rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của an toàn thực phẩm đối với sức khoẻ của trẻ. - Nhân viên nuôi dưỡng và giáo viên trong trường học hỏi trau dồi kiến thức, phối hợp nhịp nhàng với nhau trong giờ cho trẻ ăn giúp đảm bảo tuyệt đối an toàn thực phẩm cho trẻ khi ăn ở trường mầm non. - Thường xuyên tuyên truyền tới các bậc phụ huynh về thực phẩm và đảm bảo vệ sinh toàn thực phẩm cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi. 4. Hiệu quả của sáng kiến: 4.1. Hiệu quả về khoa học: Việc đảm bảo VSATTP trong trường mầm non không chỉ là một nhiệm vụ quan trọng mà còn có cơ sở khoa học vững chắc. Những giải pháp như kiểm soát nguồn thực phẩm, tuân thủ quy trình chế biến, bảo quản đúng cách, vệ sinh dụng cụ và giáo dục thói quen vệ sinh cá nhân đều đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc phòng ngừa ngộ độc thực phẩm và bảo vệ sức khỏe trẻ nhỏ. Việc áp dụng các biện pháp này một cách đồng bộ sẽ giúp tạo ra môi trường ăn uống an toàn, lành mạnh cho trẻ, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục trong trường mầm non. 4.2. Hiệu quả về kinh tế:
  20. 20 Đề tài sáng kiến được hoàn thành với lượng thời gian và sức lực được sử dụng ít nhất, tiết kiệm nhất, không mất nhiều kinh phí vì tất cả nguồn tài liệu, hình ảnh, thực hiện đối với trẻ tôi đều áp dụng đối với trẻ hang ngày. Vì vậy không gây tốn kém về kinh tế, phù hợp với điều kiện của tất cả các trường học trên địa bàn và các địa phương. 4.3. Hiệu quả về xã hội: Việc đảm bảo VSATTP trong trường mầm non không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe trẻ em mà còn mang lại nhiều lợi ích to lớn cho xã hội. Những hiệu quả này thể hiện qua việc nâng cao chất lượng dân số, củng cố niềm tin của phụ huynh vào nhà trường, giảm thiểu nguy cơ ngộ độc thực phẩm, nâng cao nhận thức cộng đồng và góp phần thực hiện chính sách an toàn thực phẩm quốc gia. Vì vậy, thực hiện tốt các biện pháp đảm bảo VSATTP không chỉ là trách nhiệm của nhà trường mà còn là nhiệm vụ chung của toàn xã hội để xây dựng một môi trường sống an toàn, lành mạnh và phát triển bền vững. 5. Tính khả thi: Các giải pháp trong sáng kiến có tính khả thi cao, có thể áp dụng ở tất cả các độ tuổi 3-5 tuổi trong các trường mầm non trên toàn huyện. Đồng thời cũng tùy theo khả năng nhận thức của mỗi độ tuổi để giáo viên và nhân viên có thể đưa ra những nội dung phù hợp với trẻ hơn nữa. 6. Thời gian thực hiện đề tài, sáng kiến: Thời gian nghiên cứu: Bắt đầu từ tháng 9/2024 đến hết tháng 3/2025 tại trường mầm non 1-6 Ba Vì. 7. Kinh phí thực hiện đề tài, sáng kiến: Đề tài sáng kiến kinh nghiệm có chi phí thấp, khoảng 250.000đ. III. KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT. Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài tôi xin được kiến nghị, đề xuất một số ý kiến như sau: 1. Đối với phòng giáo dục và đào tạo: - Phòng giáo dục tạo điều kiện cho nhân viên nuôi dưỡng được đi thăm quan học tập các trường điểm trong thành phố để hỏi và rút kinh nghiệm nhằm thực hiện tốt công tác chăm sóc nuôi dưỡng hơn nữa trong nhà trường.
  21. 21 - Tiếp tục tổ chức kiến tập các nội dung đổi mới trong công tác nuôi dưỡng chăm sóc để nhân viên các trường học tập và thực hiện. 2. Đối với nhà trường: - Ban giám hiệu nhà trường tạo điều kiện các cô nuôi tham gia các lớp tập huấn,bồi dưỡng về vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ. - Cung cấp thêm cho các cô nuôi các tài liệu, sách báo về an toàn thực phẩm để các cô có thêm kinh nghiệm trong chế biến món ăn cho trẻ. Để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ trong trường mầm non, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý, nhà trường, nhân viên bếp ăn, giáo viên, phụ huynh và toàn xã hội. Mỗi bên cần nâng cao trách nhiệm, thực hiện tốt các biện pháp kiểm soát thực phẩm, cải thiện điều kiện vệ sinh, đồng thời đẩy mạnh giáo dục về dinh dưỡng và vệ sinh thực phẩm. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp và thực hiện nghiêm túc các kiến nghị, đề xuất sẽ giúp tạo ra một môi trường học tập và sinh hoạt an toàn, lành mạnh cho trẻ, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục mầm non. Trên đây là bản sáng kiến kinh nghiệm “Một số giải pháp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ ở trường mầm non” mà tôi đã nghiên cứu, triển khai thực hiện tại trường trong năm học 2024- 2025 đạt kết quả cao. Tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong được sự đóng góp ý kiến của các cấp quản lý, hội đồng sáng kiến, bạn bè đồng nghiệp để đề tài sáng kiến kinh nghiệm của tôi được hoàn thiện hơn. Tôi xin cam đoan sáng kiến kinh nghiệm là đề tài do tôi nghiên cứu không sao chép của ai dưới mọi hình thức. Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm. Tôi xin chân thành cảm ơn! Ba Vì, ngày tháng năm 2025 Tác giả Phùng Thị Phượng
  22. 22 TÀI LIỆU THAM KHẢO - Sách “ An toàn thực phẩm” của TS.BS Đào Thị Yên Phi chủ biên – Nhà xuất bản Y học. - Sách “Dinh dưỡng và an toàn thực phẩm” của TS. Trương Thị Thùy Dương chủ biên – Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam. - Sách “Tìm hiểu về an toàn thực phẩm” của tác giả Quang Minh – Nhà xuất bản Lao động.
  23. 23 MINH CHỨNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Ảnh 01: Học chuyên đề, họp tổ chuyên môn tiếp thu ý kiến chỉ đạo của BGH
  24. 24 Ảnh 02: Tham gia thi nhân viên giỏi cấp Huyện
  25. 25 Ảnh 03: Cách lựa chọn thực phẩm tươi ngon
  26. 26 Ảnh 04: Giao nhận thực phẩm
  27. 27 Ảnh 05: Nơi sơ chế thực phẩm sống và nơi chế biến Ảnh 06: Nơi chia thức ăn chin sau khi chế biến
  28. 28 Ảnh 07: Nhân viên nuôi dưỡng kết hợp giáo viên cho trẻ ăn Ảnh 08: Giáo viên cho trẻ rửa tay và chuẩn bị đầy đủ bàn ghế, khăn lau tay, đĩa đựng thức ăn rơi thừa cho trẻ